Khi còn buộc tóc hai bím như cặp sừng, tôi đã thấy người dân trong làng nuôi thợ xẻ. Chẳng biết người từ phương nào đến, toàn nói tiếng Kinh. Dân làng tôi sống nơi khỉ ho cò gáy, cứ phải cố nói tiếng Kinh với họ ngọng líu ngọng lô.

Bản làng nghèo đói, nhà nào cũng nhỏ xíu, nay thêm thợ xẻ ở cùng càng thêm chật chội. Thôn quê không có chợ, không có điện thắp sáng, không có đường ô tô nên các mẹ các chị phải xay thóc giã gạo đến rạc cả người. Đàn ông thì tìm thức ăn tươi nuôi thợ, dẫn thợ đi rừng, chặt cây rồi cùng thợ bắc đà mới xẻ được.. Bữa nào độc rau xanh, mặt anh nào cũng thâm xì.
Hồi đấy, làng tôi mới có một phân trường, từ lớp 1 đến lớp 4, lớp học lèo tèo vài đứa quần thủng đít, đi chân đất theo học. Trẻ lớn lên chỉ theo sau trâu, chẳng ai đi học xa nhà, viết tên mình còn sai chính tả, nên già người rồi mà chẳng có khôn. Nhà nào cũng thế, nuôi 2 cặp thợ xẻ chẳng lấy một đồng tiền cơm, tiền công thanh toán thì không thiếu một xu. Xẻ xong bộ khung nhà trả nợ cả đời, thiếu đói vài năm. Thợ toàn thanh niên lực lưỡng, kéo cưa cả ngày mệt và đói, ngồi vào mâm ăn đến miếng cháy cuối cùng, gia chủ càng đói nghèo thêm.
******
Một chiều mưa tầm tã, tôi ngồi ở nhà bác Thức. Cũng lúc đấy, hai cặp thợ xẻ đội mưa ở rừng về run lập cập. Bác tôi bảo:
– Các chú lấy nước nóng tắm ngay đi, kẻo ốm đấy.
Từng anh một tắm xong rồi vào sưởi bếp lửa đang cháy bập bùng, người ngồi sưởi ấm chật kín, tám đủ các loại chuyện trên trời dưới biển, mà các anh thợ chẳng ai vui, chỉ có nét buồn xa xăm. Anh Long nhà ở xóm trên cũng ngồi hóng hớt ở đấy, nhìn chằm chằm vào mặt một anh to nhất rồi buông câu:
– Đúng là cái thứ đầu trâu mặt ngựa.
Mấy đứa trẻ tôi, cười không ngậm được mồm. Anh thợ kia chỉ lườm một phát, cháy cả râu nó. Anh Long xấu hổ chữa ngượng:
– Chả thế thì sao.
Bác tôi gắt:
– Mày làm bố trẻ con rồi, sao mà ăn nói ngu dốt thế. Đáng ra mày phải nói là, tóc anh ướt thế bao giờ mới khô…Đúng là đồ vô học.
Nhà tôi năm ấy, cũng nuôi 4 ông thợ xẻ vạm vỡ. Ăn, ở, ngủ nghỉ, giá cả đều như những nhà khác. Chiều tối tất cả đi lao động trở về, chú tôi ngạc nhiên nhận ra người quen. Chẳng là trong đoàn ấy có một chú rất đẹp trai, lại hiền nữa trước kia ở cùng đơn vị bộ đội với nhau, phục viên rồi chú ấy đi làm thợ xẻ. Chú tên là Tuân rất giỏi toán, tối nào cơm xong cũng dạy tôi học bài.
– Cháu tính thế này này nhẩm mới nhanh. Xem chú tính nhé. Số này chia với số kia, nhân với số này.
Những phép tính của chú vừa nhanh vừa khó giải, tôi là đứa dốt đặc cán mai, xem chả hiểu gì sất.
Trong làng tôi có rất nhiều chị xinh đẹp, các chú ấy không đi giao du, mà cô nào cũng biết tên. Bất kể đứng ở đâu, thấy bóng gái xinh là hò ngay để ghẹo, mà mấy chú thợ xẻ này tài ghê, ai hát cũng hay.
– Mùa xuân lày về bên cô Nan, muốn nấy chồng về Hà Lam Linh.
Trồi ôi …, hát thế ai mà thích cơ chứ. Tôi cười ha há chê bai, mặt đỏ tía tai rồi ù té chạy ra xa, sợ bị túm được, chú lại xoa đầu. Khi các chú đã như người thân quen thì đã xong, họ lại ba lô, cưa vác sang nhà khác. Cũng buồn phết.
******
Bẵng đi một thời gian dài, thấy làng trên xóm dưới kháo nhau về đoàn thợ xẻ bỗng nhiên mất tăm mất tích, chẳng biết đâu mà tìm. Mà tìm thế nào được, núi đồi rộng bao la, bản làng thưa thớt, không có việc gì có khi chẳng gặp nhau bao giờ, huống chi khách lạ, ai mà quan tâm cơ chứ. Còn gia đình họ ở quê, cũng lên lang thang tìm họ khắp chốn, đi bộ trèo đèo lội suối đến long cả đầu gối mà cũng chẳng thấy đâu, như thể họ đã biến mất vào không gian vậy.
Khi niềm hy vọng đã tắt lịm, chuyện đã đi vào quên lãng được khá lâu, thì ở làng ngoài kia có một thằng tên là Bơ rất sợ máu. Trước đây nó bình thường, vẫn thịt con gà con lợn để ăn, nhưng bỗng nhiên người ta thấy nó hay ngất mỗi khi nhìn thấy máu, thế là người ta cho vào tầm ngắm.
Bơ tầm 30 tuổi, cao dong dỏng, nước da ngăm đen, tóc xoăn, hiền lành chăm chỉ, ít rượu chè. Khi có công to việc lớn của làng nó cũng đến giúp nhưng không thích tham gia tán gẫu, nó thường lảng đi chỗ khác.
Người tính không bằng trời tính, lần đấy Bơ đi hộ hàng xóm đục cột nhà, khi qua sân chỗ mấy đứa đang làm bếp, chẳng may có con gà cắt tiết chưa chết hẳn đang giãy chết, lộn nhào va vào chân nó. Thế mà nó kêu trời kêu đất hốt hoảng sợ đến tái mặt, nó co chân sút một phát, con gà bay vèo xa hàng mấy mét, khiến người ta há mồm kinh ngạc.
– Mẹ mày, tao đây xiên cả tá người còn chưa sợ nhé. Mày như con muỗi thôi, dám xoắn vào chân bố mày à?
Mặt nó lúc ý đã biến sắc sang đỏ như gà chọi, đôi mắt vằn thành tia sao mà sợ thế. Ở đấy có gần chục người đến giúp mà không ai dám hé nửa lời, chỉ dám liếc trộm xem nó đục đẽo với người ta. Không khí thật nặng nề.
Vài hôm sau, người ta thấy một xe công an đến giải nó đi, tay đã còng số 8, chả hiểu nó phạm tội gì. Vài tháng sau, người ta lại thấy xe chở nó về quê, để tòa án xử lưu động, lúc ấy mới biết là nó giết người. Đứng trước vành móng ngựa, nó gầy lắm, chỉ da bọc xương, nhưng đôi mắt thật hung dữ cứ nhìn qua dưới, rất lạnh.
Dân làng đến xem đông lắm, chật kín cả sân vận động, cái bọn choai choai thì trèo lên những ngọn cây để xem cho rõ. Hàng ghế dành cho người đến dự phiên tòa, có mấy bà mấy chị cứ ngất lên ngất xuống, nhưng chẳng ai để ý. Người ta cứ dõi theo từng câu hỏi của tòa, và nghe thằng Bơ trả lời thế nào… Rồi bỗng dưng rất nhiều tiếng gào thét lên:
– Nợ máu phải trả máu. Giết, giết… phải giết đền mạng. Phải giết đền mạng.
Hôm ấy tòa xử tận lúc mặt trời sắp đứng bóng mới xong. Khi tòa tuyên án tử hình, mặt thằng Bơ vẫn ráo hoảnh, chỉ có mẹ và con nó khóc không thành tiếng. Còn những người khác thì vô cảm, dõi theo nó lê từng bước chân, xem công an áp tải lên xe thùng trở về trại giam, đợi ngày ra trường bắn./.
Đặng Quỳnh.
dangquynh2025@gmail.com
