han mac tu nha tho cua dau thuong bat hanh va tho dien - Hàn Mặc Tử - nhà thơ của đau thương, bất hạnh và thơ điên

Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương, bất hạnh và thơ điên

Tác giả - Tác phẩm Thông tin - Kiến thức
  ❂ Mời các bạn đón nghe Cây Bút Trẻ Audio
Lưu Ý: Bạn có thể xem chương trình trong màn hình chuẩn hơn tại đây

Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, là con ông Nguyễn Văn Toản và bà Nguyễn Thị Duy, sinh ngày 22/9/1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới, trong một gia đình công giáo lâu đời, có 6 người con, bốn trai, hai gái (Nhân, Lễ, Nghiã, Trí, Tín và Hiếu). Cha làm thông phán phải thuyên chuyển dọc theo bờ biển Trung Việt từ Đồng Hới tới Quy Nhơn, khi ông đổi đến Sa Kỳ (1920), Trí và Tín (Nguyễn Bá Tín) mới vào trường tiểu học Quảng Ngãi.

Tháng 6/1926, sau khi cha mất, gia đình về Quy Nhơn sống với người anh cả, Trí và Tín vào trung học ở Quy Nhơn. Sau đó Trí ra Huế học trường Pellerin (1928-1930). Một lần bơi xa ngoài biển suýt chết đuối, từ đó Trí thay đổi hẳn tâm tính, trầm lặng hơn, có vẻ đau yếu, gia đình nghi Trí mắc bệnh tâm thần, ít ăn, lười tắm gội thay quần áo.

BÚT DANH

Nguyễn Trọng Trí làm thơ từ năm mười sáu tuổi lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh. Đến năm 1936, khi chủ trương ra phụ trương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử, sau ông lại đổi thành Hàn Mặc Tử. “Hàn Mạc Tử” nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải. Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm Mặt Trăng khuyết vào bức rèm lạnh lẽo để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật. “Mặt Trăng khuyết” đã được “đặt vào” chữ “Mạc” thành ra chữ “Mặc”. Hàn Mặc Tử có nghĩa là “chàng trai bút nghiên”.

Hàn Mặc Tử bắt đầu nổi tiếng năm 1931 với bút hiệu P.T (Phong Trần). Năm 1932, làm việc ở sở đạc điền Quy Nhơn, quen với Quách Tấn. 1935 vào Sài Gòn làm báo. Tháng 5/1936 người anh cả Nguyễn Bá Nhân, cột trụ của gia đình mất. Hàn rời Sài Gòn về Quy Nhơn. Cuối năm 1936, gia đình bỏ tiền cho Hàn in Gái quê.

CUỘC ĐỜI

Ngay từ đầu năm 1935, trong nhà đã thấy xuất hiện triệu chứng bệnh phong. Năm 1936, bệnh phát rõ hơn. Nhà giấu, chữa chạy riêng, tìm đến các thày thuốc bắc. Đến giữa năm 1939, thuốc bắc vô hiệu, bệnh trở nên trầm trọng. Giữa năm 1940, phải đưa vào bệnh viện phong Tuy Hoà. Quá trễ. Thuốc của một vài ông lang băm đã huỷ hoại cơ thể. Hàn Mặc Tử mất tại trại cùi ngày 11/ 11/ 1940, 28 tuổi.

Người yêu: Cô Trà (Thu Yến), Mỹ Thiện, Hoàng Hoa (Cúc), Mộng Cầm (Nghệ, cháu Bích Khê), Mai Đình (Lê Thị Mai), Ngọc Sương (chị Bích Khê), Thương Thương (Trần Thanh Địch giới thiệu)…

SỰ NGHIỆP

Làm thơ từ 16 tuổi (1928), bút hiệu Minh Duệ Thị. Khoảng 1930-31, đổi là Phong Trần. Từ 1935, đổi ra Lệ Thanh, sau thành Hàn Mạc Tử (Hàn Mạc là bức rèm lạnh), và sau cùng là Hàn Mặc Tử (Hàn Mặc Tử là chàng bút mực), đó là theo sự giải thích của Quách Tấn. Nguyễn Bá Tín cũng cho rằng bút hiệu của anh ông là Hàn Mặc Tử, nhưng Hàn là nghèo chứ không phải lạnh.Chế Lan Viên chọn tên Hàn Mặc Tử, vì ông bảo rằng trong lúc nói chuyện, chúng tôi gọi nhau như thế. Nhưng có những nguồn khác, như Võ Long Tê và Phạm Đán Bình, tìm lại báo cũ, thấy hai bút hiệu Hàn Mạc Tử và Hàn Mặc Tử được dùng song song trên mặt báo.

BÚT TÍCH

Nhà phê bình văn học Trần Thanh Mại viết tác phẩm đầu tiên Hàn Mạc Tử (1912-1940), in 1942, hai năm sau khi thi sĩ qua đời. Ông tập hợp được nhiều văn bản qua tư liệu của em ông là Trần Thanh Địch và cháu ông là Trần Tái Phùng, cả hai đều là bạn thân của Hàn Mặc Tử. Nguyễn Bá Tín viết :”Tôi biết anh gửi cho Trần Thanh Địch và Trần Tái Phùng nhiều hơn hết, coi như gần đủ bộ thơ anh”.

Khi sách của Trần Thanh Mại ra đời tháng 2/1942, Quách Tấn kiện vì sách đã trích dẫn khá nhiều thơ Hàn Mặc Tử chưa in, “có hại” cho việc xuất bản thơ Hàn Mặc Tử sau này. Vụ kiện xẩy ra ở Huế, do Nguyễn Tiến Lãng, lúc ấy là Thừa phủ Thừa Thiên, xử. Nhờ sự dàn xếp khéo léo của Nguyễn Tiến Lãng mà mọi việc được êm đẹp. Quách Tấn là người đã giúp đỡ tiền bạc để Hàn Mặc Tử chữa bệnh. Sau khi Hàn mất, gia đình chính thức giao phó việc in thơ cho ông, Nguyễn Bá Tín viết: « Khi tôi ở Lào về thì chú Hiếu đã chuyển giao bút tích văn thơ tất cả cho anh Tấn. Chú sợ bị lây nên không sao chép, không kiểm nhận».Nhưng Quách Tấn không làm được việc ấy, và khi chiến tranh xẩy ra, ông đã đánh mất hết toàn bộ bút tích bản thảo của Hàn Mặc Tử. Nhờ tác phẩm của Trần Thanh Mại, mà những phần hay nhất trong thơ Hàn Mặc Tử được phổ biến từ 1942.

Ngoài tập Gái quê, do chính gia đình bỏ tiền ra in năm 1936, trong suốt những năm bệnh tật và nghèo khổ, Hàn còn phải lo tìm cách in thơ, nhưng những cố gắng của Hàn đều thất bại. Hoàng Diệp viết: “Suốt ba năm kế tiếp 1937, 1938 và 1939, ngoài sự sáng tác Hàn Mặc Tử phải mất nhiều thì giờ trong việc tìm kiếm lại tất cả những bài thơ chàng đã làm, để chuẩn bị cho việc ấn hành”.Hai người bạn tâm giao là Quách Tấn và Trần Thanh Địch không có đủ tiền in. “Cuối cùng Thế Lữ xuất hiện và hứa giúp chàng hoàn thành việc ấy. Thế Lữ là một thi sĩ có danh vọng bậc nhất, thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn ở Hà Nội”. Nhưng “Sau nhiều ngày theo dõi, thúc giục, Hàn Mặc Tử nhận được tin đầy tang tóc kết thúc công việc in thơ chàng. Thế Lữ vừa cho chàng biết rằng trên một chuyến tàu xuôi về Hải Phòng, tập thơ của chàng đã bị bỏ quên và không tìm lại được nữa”.

THƠ ĐIÊN

Người ta gọi thơ ông là thơ điên. Nhưng những bài được nhiều người biết lại là những bài trong trẻo, trong trẻo bậc nhất so với cả nền thơ hồi ấy: Mùa xuân chín, Đây thôn Vỹ Dạ, Tình quê… Trong trẻo đến mức tạo thành đặc điểm của thơ ông giai đoạn đầu: trời đất tinh khôi, không khí chưa hề bụi bặm, trong nắng có mùi hương, trong gió có âm thanh của nhạc.

Đôi khi, như một phép màu, hình ảnh giản dị thân quen của đời sống thường ngày bỗng có sức gợi nhớ âm vang, phóng vào rất xa, rất xa, đầy ấn tượng. Chữ nghĩa quen, hình ảnh quen, nhưng cảm giác rất lạ:

Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang.

Hay như là cái nhìn sáng tạo làm giật mình cả trời đất:

Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

Có lẽ cách cảm nhận táo bạo này, khi bằng thị giác, khi bằng xúc giác Da thịt trời ơi trắng rợn mình cộng với sự tự nhận của tác giả khi ông đặt tên tập thơ thứ hai là Thơ điên: Đau thương. Và nhất là ở vài năm cuối đời bút pháp ông lẩn vào siêu thực. Đã một thời gian dài, người ta lúng túng khi bình luận tài năng Hàn Mặc Tử. Tài thì tài rồi, có chỗ còn như thiên tài nhưng chỉ dẫn chứng loanh quanh một số bài trong trẻo đã nói trên. Tác phẩm chọn dạy cho học sinh trung học cũng chỉ Mùa xuân chín, Đây thôn Vỹ Dạ. Nhà phê bình Hoài Thanh, người sành Thơ mới vào bậc nhất, người đã biểu dương và tiên lượng tài năng khá chính xác các nhà thơ tài năng của thời điểm ấy, khi viết đến Hàn Mặc Tử, trong Thi nhân Việt Nam hồi 1941, ông nhận xét đúng mực và có lý từng tác phẩm của Hàn nhưng ông né tránh bình luận bao quát về đóng góp của Hàn trong thế giới thơ điên.

Ông kính cẩn thế giới ấy của Hàn nhưng xin phép khoanh lại. Ông viết: Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hững hờ bỏ quên, bây giờ mất rồi ta xúm lại kẻ chê người khen. Chê hay khen tôi đều thấy có gì bất nhẫn.

Xuân Diệu, một kiện tướng của phong trào Thơ mới và càng về sau này người ta càng thấy ông cũng rất cự phách trong thẩm định thơ thì có vẻ cảnh giác với chiêu thức từng xảy ra trong giới thơ là lộn sòng cái lập dị vào sự cách tân sáng tạo. Xuân Diệu viết, không nhắm trực tiếp vào Hàn Mặc Tử, nhưng khi đọc người ta nghĩ ngay đến tập thơ Thơ điên như sau: “Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ của những chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười chân vừa nhảy miệng vừa kêu: tôi điên đây, tôi điên đây. Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu”.

Buổi đầu làm thơ Hàn Mặc Tử còn viết những bài thơ theo luật Đường, niêm luật tề chỉnh, đối ứng già dặn nhưng hồn thơ thì mới, bạo, lãng mạn.

Năm 19 tuổi được ông già bến Ngự Phan Bội Châu họa thơ và biểu dương.

Hàn Mặc Tử, ngay ở tập Gái quê, tập thơ đầu tiên theo bút pháp Thơ mới, xuất bản năm 1936, tập thơ có nhiều bài bình thường, còn dấu vết của người mới viết nhưng đây đó, đã bộc lộ một cảm xúc lãng mạn vào bậc nhất trong phong trào Thơ mới. Mà lãng mạn đến cùng thì thành siêu thực. Một thứ siêu thực trực tiếp tự ngấm vào giác quan mà thành hiện thực. Đến tập Đau thương, được đặt tên là thơ điên thì những đặc trưng, cả tỉnh lẫn điên của Hàn đều hiện diện. Nhiều câu thơ lạ. Và đẹp. Và rất tinh khôi:

Vừa mới lên trăng đã thẹn thò!
Thơm như tình ái của ni cô.

Hàn Mặc Tử lại giàu cảm giác, giàu đến mức lấn sang cả ảo giác: Từ Da thịt trời ơi trắng rợn mình đến Áo em trắng quá nhìn không ra là một bước biến hóa trong cảm nhận giác quan, màu trắng từ trực giác sang ảo giác. Hàn Mặc Tử có cách giao lưu với hư vô ít ai có. Ông nghe trong không gian, cũng bằng ảo giác:

Có thứ gì rơi giữa khoảng im
Rơi tự thượng tầng không khí xuống
Tiếng vang nhè nhẹ dội vào tim.

Và nghe trong thời gian:

Còn đâu tráng lệ những thời xanh
Mùi vị thơm tho một ái tình.

Chính cái phẩm chất lãng mạn đến cùng và những giác quan kỳ ảo trời cho ấy đã giúp Hàn Mặc Tử tạo những câu thơ ảo chồng lên ảo, người đời chưa quen, và cũng do tác giả sui, mới gọi nó là thơ điên.

Bây giờ tôi dại tôi điên
Chắp tay tôi lạy cả miền không gian.

Đúng ra, lời điên mà ý tỉnh. Cái mảng “điên” nhất là mảng không gian trăng, nhân vật trăng. Trăng thành ám ảnh trong nội tâm thi sĩ. Thử lấy một vài đoạn điển hình “chất điên” Hàn Mặc Tử để thấy mạch tư duy của ông:

Cả miệng ta là trăng là trăng
Cả lòng ta vô số gái hồng nhan
Ta nhả ra đây một nàng…

Hoặc như:

Cười như điên sặc sụa cả mùi trăng
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vó tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy kinh hoàng mửa máu ra

Đấy là nỗi đau thương tồn tại trong dạng thức điên dại của ngôn từ vì chỉ ngôn từ điên dại mới nói được đủ cường độ của nỗi đau thương trong cõi giam cầm tật bệnh, cùng đường, tuyệt vọng của một hồn thơ đang tràn đầy niềm ham sống. Nhà thơ khạc hồn ra khỏi xác, xác bất động nên phải cho riêng hồn được phiêu diêu tìm đến xa vời kỳ ảo, nơi có người giặt lụa bên sông Ngân. Lụa là trăng, nước là trăng và người cũng là trăng: Người trăng ăn vận toàn trăng cả/ Gò má riêng thôi lại đỏ hườm. Thơ Hàn Mặc Tử hay nói tới màu đỏ của má, của môi, của hoa: đỏ tươi, đỏ hườm, đỏ máu như những điểm ấm nóng mang vị trần gian trong cảnh sắc lạnh âm u ma quái. Hình ảnh lạ, động từ bạo làm bật dậy những cảm giác sâu, mạnh, ấn tượng không phai nhạt. Trong bài Những giọt lệ 12 câu, mà có tới: Bao giờ mặt nhật tan thành máu/ Và khối lòng tôi đứng tựa si. Lại Người đi một nửa hồn tôi mất/ Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ. Lại nữa:

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu.

Hàn Mặc Tử có những ý thơ quái đản, giọng thơ hoảng loạn mà tình thơ rất xót thương, một nỗi xót thương thanh khiết, thấm thía, sâu vời vợi. Lời như mê sảng, như nói nhăng nhưng đọc xong thì ứa nước mắt (Say trăng, Rượt trăng, Trăng tự tử, Cô gái đồng trinh, Trăng vàng trăng ngọc, Hồn là ai…). Bút pháp ấy, ngoài Hàn Mặc Tử ra không thấy ở đâu. Làm thơ mà như bưng hồn mình ròng ròng máu chảy đặt lên trang giấy.

Sau tập Đau thương, thơ Hàn Mặc Tử như nghiêng về tôn giáo (Xuân như ý, Thượng thanh khí) và tình yêu (Cẩm châu duyên). Nhưng không phải là thơ truyền bá tôn giáo hay ca ngợi hạnh phúc của tình yêu. Đây là hai cõi ảo, Hàn Mặc Tử tự tạo cho mình bằng những mảnh vụn của đời thực. Thơ có ý, nhưng không mê đắm hay đúng hơn tác giả phải bày biện chữ để ra sự mê đắm chứ người đọc không tự cảm nhận được. Người đọc xót thương khi nhận ra: hai thế giới tự tạo này là nơi nương tựa cuối cùng của hy vọng, nó có sức cưu mang cho sự sống tác giả. Hoài Thanh có nhận xét về tác phẩm này: Hàn Mặc Tử chốc chốc lại ra ngoài biên giới thơ, lạc vào thế giới đồng bóng. Một nhận xét tế nhị về chỗ hụt hơi của bút pháp. Hàn không thể tự lừa mình để trốn số phận. Tác giả phải đối diện với số phận bi thương của mình nên cái thế giới thần tiên tự tạo ấy mới thành đồng bóng. Nó lộ diện là không thực. Xót thương là ở chỗ ấy.

Nội dung bài viết được tổng hợp chia sẻ từ các nguồn dưới đây:

 

Xem thêm:  Thơ ư? Sao phải bận tâm?

Trả lời